NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XVI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2026 - 2031

PHỐ ÔNG ĐỒ XÃ TRẢNG BOM TẠI CÔNG VIÊN VĂN HÓA ĐỀN HÙNG – ĐIỂM ĐẾN TÂM LINH, VĂN HÓA TRONG DỊP TẾT BÍNH NGỌ 2026

Thứ bảy - 14/02/2026 20:55
  • Xem với cỡ chữ 
  •  
  •  
  •  
Trong không khí rộn ràng chào đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Phố ông đồ xã Trảng Bom được tổ chức tại Công viên văn hóa Đền Hùng Trảng Bom đã trở thành điểm đến thu hút đông đảo người dân và du khách gần xa, tham quan góp phần lan tỏa nét đẹp truyền thống văn hóa dân tộc.

Phố ông đồ xã Trảng Bom tại Công viên văn hóa Đền Hùng

Hoạt động Phố ông đồ do TTVHTT xã Trảng Bom phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức, nhằm tôn vinh giá trị thư pháp Việt Nam, gìn giữ phong tục xin chữ đầu xuân, đồng thời tạo không gian sinh hoạt văn hóa, tâm linh ý nghĩa cho nhân dân trong dịp Tết.

Tại Phố ông đồ, ngay 29 tet “ông đồ” trong trang phục truyền thống trực tiếp cho chữ, viết câu đối, thư pháp với những nội dung mang ý nghĩa cầu chúc bình an, may mắn, tài lộc và hạnh phúc trong năm mới. Nhiều người dân đã đến xin chữ “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”, “An”, “Tâm”, “Đức”… để treo trong nhà, thể hiện mong ước về một năm mới tốt lành.

Nhiều người dân đến xin chữ để treo trong nhà

Bên cạnh hoạt động cho chữ, không gian Phố ông đồ còn được trang trí đậm sắc xuân với mai vàng, hoa đào, tiểu cảnh truyền thống, khu trưng bày hình ảnh về Quốc Tổ Hùng Vương, góp phần giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, khơi dậy niềm tự hào dân tộc trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.

 

Nhiều gia đình, đoàn viên thanh niên, học sinh đã lựa chọn nơi đây làm điểm tham quan, chụp ảnh lưu niệm và du xuân đầu năm. Không khí tại Công viên văn hóa Đền Hùng những ngày này luôn nhộn nhịp, ấm áp, tạo nên bức tranh xuân tươi vui, đậm đà bản sắc văn hóa Việt.

Nhiều người dân đã đến chụp ảnh lưu niệm và du xuân đầu năm

Thông qua hoạt động Phố ông đồ, xã Trảng Bom không chỉ mang đến sân chơi văn hóa lành mạnh, bổ ích mà còn góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể truyền thống. Việt Nam bước vào thời đại đồ đồng cách nay khoảng 4.000 năm. Đồ đồng phát triển là cơ sở vật chất của thời kỳ các vua Hùng dựng nước Văn Lang.

​Trong thời kỳ này, nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo, cạnh đó là các nghề: săn bắt, đánh cá, gốm, dệt, đan lát, mộc, sơn … đặc biệt là nghề đúc đồng phát triển mạnh. Đời sống văn hóa tinh thần có nhiều nét đặc sắc.

​Đây là thời kỳ đã hình thành những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

Vào thời đại kim khí, cách nay 4.000 - 2.000 năm, trên đất Việt Nam đã hình thành nền văn minh sông Hồng ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, văn hóa Sa Huỳnh ở Trung Trung Bộ và văn hóa Đồng Nai ở Đông Nam Bộ.

Nền văn minh sông Hồng gồm 4 giai đoạn văn hóa :Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn, phát triển tương ứng với thời kỳ các vua Hùng dựng nước Văn Lang, An Dương Vương lập nước Âu Lạc. Hàng vạn di vật thời này đã được tìm thấy, trong đó có đồ đá, đồ gốm, nhiều nhất là đồ đồng dùng trong sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt, đặc biệt nổi tiếng là các loại trống đồng.

Văn hóa Sa Huỳnh độc đáo với các mộ chum, đồ trang sức bằng thủy tinh, đá quý.

Văn hóa Đồng Nai phổ biến với các loại khuôn đúc và vũ khí bằng đồng. Đây là những nền văn hóa đã làm nên truyền thống và bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Ba trung tâm văn hóa ở Việt Nam trong thời sơ sử nói trên đã có sự phát triển hoàn toàn độc lập và khác biệt so với các văn hóa cùng thời như Thương - Chu của Trung Quốc và Vệ Đà của Ấn Độ. Nhưng bước ngoặc lịch sử vào năm 179 tr. CN đối với Văn Lang - Âu Lạc và sự du nhập ồ ạt của người Ấn Độ sang vùng Đông Nam Á vài thế kỷ trước Công Nguyên đã làm lụi tàn sự phát triển ấy và đưa lịch sử theo một chiều hướng khác mà hệ quả của nó còn kéo dài đến tận sau này.

DI TÍCH KHẢO CỔ THỜI HÙNG VƯƠNG

​Trước kia thời Hùng Vương chỉ được phản ánh qua truyền thuyết. Các nhà sử học dựa vào đó mà ghi chép lại lịch sử thời này.

Ngày nay các nhà khảo cổ học đã tìm được ở vùng trung du đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (Việt Nam) nhiều di tích và di vật nằm dưới mặt đất có niên đại thuộc thời Hùng Vương (cách ngày nay khoảng 4.000 – 2.000 năm), trong đó có các di tích tiêu biểu như: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng, những nhóm di tích này thể hiện một quá trình phát triển liên tục suốt từ thời đại đồ đồng qua đầu thời đại đồ sắt.

​Các di tích và di vật thuộc thời đại Hùng Vương đã được phát hiện là những bằng chứng xác thực nhất giúp chúng ta hiểu biết về thời đại Hùng Vương.

HỆ THỐNG CHÍNH QUYỀN THỜI HÙNG VƯƠNG

… “Chia nước làm 15 bộ, chia các em cai trị, đặt các em làm tướng văn, tướng võ. Văn là Lạc Hầu, võ là Lạc Tướng. Con trai vua là Quan Lang, con gái vua là Mỵ Nương. Trăm quan gọi là Bồ Chính, Thần bộc, nữ lệ gọi là Xảo Xứng. Đời đời cha truyền con nối là phụ đạo. Vua đời đời thế tập gọi là Hùng Vương …”

NÔNG NGHIỆP THỜI HÙNG VƯƠNG

Cư dân thời Hùng Vương sống trên nhiều miền đất khác nhau, do đó những hình thức nông nghiệp cũng rất đa dạng. Theo những thư tịch cổ thì đây là vùng đất phì nhiêu, màu mỡ, khí hậu ẩm ướt là điều kiện rất tốt cho nông nghiệp phát triển.

Nền nông nghiệp thời Hùng Vương có những đặc điểm quan trọng được gọi là ruộng Lạc. Theo Giao Châu ngoại vực ký do Thủy kinh chú dẫn lại : “Ở thời xưa, Giao Chỉ chưa có quận huyện thì đất đai đã có ruộng Lạc, ruộng ấy theo nước thủy triều lên xuống (mà làm). Dân khẩn ruộng mà ăn nên gọi là dân Lạc…”. Có thể hiểu rằng cư dân thời đại này cư trú trên các lưu vực sông lớn có phù sa bồi đắp hoặc ở ven những vùng trũng. Vào mùa mưa thì nước ngập và họ phải đợi đến mùa khô mới bắt đầu cày cấy, hình thức này gọi là cấy “lấn nước”. Như vậy, ruộng Lạc là ruộng bãi, sau này họ tiến hành đắp bờ, giữ nước chia khoanh vùng cày cấy với hệ thống thủy lợi công phu hơn. Bên cạnh đó họ còn làm nương rẫy (ruộng khô).

Hai hình thức này phát triển song song và đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp thời Hùng Vương.

NGHỀ GỐM THỜI HÙNG VƯƠNG

​Đồ gốm thời đại Hùng Vương khá phong phú, nhưng chủ yếu là gốm thô. Tiêu biểu gốm thời kỳ này là Phùng Nguyên và Đông Sơn.

​+ Gốm Phùng Nguyên : Chất liệu đất sét pha cát mịn và vụn bã thực vật, động vật. Xương gốm thanh nhẹ nhưng dễ thấm nước và bở.

​+ Gốm Đông Sơn : Chất liệu đất sét pha cát tương đối mịn hạt, ít tạp chất hữu cơ. Do đó gốm có độ cứng và ít thấm nước.

​Phương pháp chế tạo gốm chủ yếu làm bằng bàn xoay (xoay tay và xoay chân). Với kỹ thuật chế tác này, đồ gốm thời Hùng Vương đạt trình độ và năng suất laođộng hiệu quả cao phục vụ cho nhu cầu xã hội.

​Sản phẩm chủ yếu là các loại đồ đựng và đồ đun nấu, ngòai ra cũng có một số dụng cụ dùng trong nghề dệt và nghề chài lưới với hoa văn đa dạng : nan chiếu, răng lược, ô vuông…

NGHỀ DỆT THỜI HÙNG VƯƠNG

​Theo sử sách Trung Quốc cho biết trước thời kỳ Bắc thuộc, người Việt cổ đã biết trồng bông, trồng đay, gai để lấy sợi dệt vải.

​Thực ra nghề xe sợi dệt vải đã có từ thời Phùng Nguyên. Căn cứ vào dấu vết trên đồ gốm cho biết cư dân thời kỳ này đã xe được những sợi khá nhỏ, săn và mịn và họ dùng dọi bằng đất nung để xe chỉ.

Ngoài ra hình ảnh được khắc họa trên trống, thạp đồng hay chuôi kiếm hình người mặc áo, mặc váy đã minh chứng cho thời kỳ này đã xuất hiện nghề gốm và ngày càng phát triển.

NGHỀ ĐÚC ĐỒNG THỜI HÙNG VƯƠNG

​Sự ra đời và phát triển cao độ của kỹ thuật đúc đồng thời Hùng Vương đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt của nước Văn Lang trên cơ sở của một nền nông nghiệp phát triển ổn định. Nông nghiệp được trang bị nhiều công cụ tốt, ngoài những hiện vật dùng trong sản xuất, sinh họat, vũ khí họ còn chế tác những loại đồ đồng có kích thước lớn, trang trí đẹp với trình độ kỹ thuật cao đó là những loại trống đồng, thạp đồng tiêu biểu nhất của người Việt cổ. Với những hình ảnh trang trí sinh động và hiện thực đã cung cấp cho chúng ta những tài liệu có giá trị về việc tìm hiểu các mặt sinh hoạt của thời Hùng Vương.

SĂN BẮT ĐÁNH CÁ THỜI HÙNG VƯƠNG

​Nghề đánh bắt cá đã xuất hiện từ thời văn hóa Phùng Nguyên và ngày càng phát triển mở rộng. Tại các di chỉ thuộc nền văn hóa Đông Sơn, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều chì lưới bằng đất nung, ở Tràng Kênh (Hải Phòng) có nhiều xương răng cá hay tại Thiệu Dương, Hà Đông có nhiều lưỡi câu bằng đồng đã được phát hiện dùng để câu cá ở sông hồ.

​Với sự ra đời của nghề đóng thuyền đã minh chứng rằng cư dân thời Hùng Vương không chỉ đánh bắt cá ở sông, hồ mà họ còn có khả năng tiến hành đánh cá trên mặt biển. Hải sản đã cung cấp cho người dân nhiều nguồn lợi lớn.

VŨ KHÍ THỜI HÙNG VƯƠNG

​Bên cạnh những công cụ sản xuất, sinh hoạt được chế tác bằng đồng, vũ khí cũng là một trong những di vật được tìm thấy chiếm một tỷ lệ khá cao. Đó là những vũ khí dùng trong bộ binh. Chúng bao gồm rìu chiến, kiếm, lao, giáo, mũi tên…

​Sự phong phú về vũ khí đã phản ánh kỹ thuật đúc đồng của người Việt cổ đã đạt đến trình độ cao và đây là những loại vũ khí được dùng trong quân đội mang tính chuyên nghiệp.

VĂN HÓA NGHỆ THUẬT THỜI HÙNG VƯƠNG

​Sinh hoạt đời sống văn hóa vật chất, xã hội và văn hóa tinh thần thời Hùng Vương thể hiện rất phong phú thông qua nghệ thuật trang trí, tạo hình trên các di vật được tìm thấy vào thời kỳ này.

Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái “ Đời sống của cư dân lúc đó sống ven rừng, đánh cá, lấy bột cây mà ăn, lấy vỏ cây làm áo… làm mắm bằng cầm thú, bắc gỗ làm nhà sàn,… cắt tóc ngắn để đi rừng, xăm mình để tránh giao long…”

​Thông qua những loại hình văn hóa nghệ thuật này đã thể hiện khiếu  thẩm mỹ tinh tế, kỹ thuật chế tác tinh xảo, đồng thời, thể hiện sự tiến bộ và phân hóa xã hội.

ÂM NHẠC THỜI HÙNG VƯƠNG

​Thời Hùng Vương còn để lại tới ngày nay nhiều di vật là nhạc cụ dân tộc. Nghệ thuật âm nhạc và vũ đạo có một vị trí quan trọng trong sinh họat và văn hóa tinh thần của người thời Hùng Vương. Chúng kết hợp những âm thanh mạnh mẽ của trống chiêng, vừa dìu dặt âm điệu nhẹ nhàng của khèn sáo và những điệu múa uyển chuyển. Qua đó có thể thấy được đặc điểm tinh thần của người xưa là yêu chuộng văn nghệ, thể hiện trình độ phát triển của tình cảm và tư duy thầm mỹ của con người qua sự phong phú của nghệ thuật âm nhạc.

TRANG SỨC THỜI HÙNG VƯƠNG

​Nếu như trong đời sống xã hội, công cụ sản xuất bằng đá ngày càng ít đi thì những đồ trang sức bằng đá nhất là đá quý ngày càng nhiều và sau này là bằng chất liệu kim loại được chế tác điêu luyện hơn.

​Từ thời kỳ Phùng Nguyên đến Đông sơn, kỹ thuật chế tác đá đạt trình độ hoàn mỹ. Người thợ làm đồ trang sức đã biết vận dụng kỹ thuật cưa, mài, khoan rất khéo léo, chúng rất phong phú và đa dạng về loại hình và số lượng như vòng tay, vòng chân, khuyên tai, nhẫn…

ĐỒ DÙNG SINH HOẠT

Đồ dùng sinh hoạt của cư dân thời Hùng Vương rất phong phú và nhiều chủng loại. Chúng bao gồm là những vật dụng dùng trong sinh hoạt hằng ngày được làm bằng những vật liệu như đất nung và đồng thau: muôi, thìa, nồi, chậu, bát đến bình, âu, thạp…

Những vật dụng này được chế tác từ kỹ thuật đơn giản đến công phu, chứng tỏ trình độ và nhu cầu của xã hội đã phát triển, thể hiện thị hiếu của người xưa : kết hợp yếu tố sử dụng thực tế và trình độ tư duy thẩm mỹ trên các hiện vật.

Vũ Khí:

​Vũ khí là lọai hình di vật thường được phát hiện trong các di tích thuộc thời đại đồ đồng và chiếm một tỉ lệ khá cao trong tổng số các di vật đã tìm được. Gồm các lọai:

- Vũ khí đánh gần: rìu chiến, giáo, dao găm, lưỡi qua.

- Vũ khí đánh xa: cung nỏ, mũi tên, lao…

- Vũ khí phòng ngự: mảnh giáp che ngực.

Sự phong phú của các loại vũ khí đã phản ánh sự thiện chiến của người Việt thời Hùng Vương.

* Nông Nghiệp: … “Thời xưa Giao Chỉ … đất đai có ruộng Lạc, ruộng ấy làm theo nước thủy triều lên xuống. Dân khẩn ruộng mà ăn nên gọi là dân Lạc …

(Trích sách Thủy Kinh Chú  - thế kỷ V)

​“Cày bằng dao, trồng bằng lửa. Đất sản xuất được nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thổi cơm…” (Trích sách Việt Sử Lược – thế kỷ XIV)

* Văn Hóa Nghệ Thuật: … “Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói, cắt tóc ngắn dễ đi lại trong rừng rú … Có người chết thì giã cối làm lệnh … Việc hôn thú giữa nam và nữ lấy gói đất làm đầu, sau đó mới giết trâu, dê làm đồ tế lễ …”

(Trích sách Lĩnh Nam Chích Quái - TK XIV) 

Phố ông đồ tại Công viên văn hóa Đền Hùng đã và đang trở thành điểm nhấn đặc sắc trong chuỗi hoạt động mừng Đảng – mừng Xuân Bính Ngọ 2026 của địa phương, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng người dân và du khách, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ngày càng phong phú, giàu bản sắc.
 

Tác giả: Phương Khánh - Ảnh: Thanh Toàn

Chia sẻ
Thống kê truy cập

Hôm nay

2,598

Tổng lượt truy cập

2,417,060
Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử UBND xã Trảng Bom

R1
R3
R5
R6
R7
R9
R10
R11
R13
R14
R15
AI pháp luật - Cổng pháp luật quốc gia
CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA VỀ VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Bình dân học vụ số
Cổng đào tạo AI miễn phí cho cộng đồng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây